Một số thể loại kí

Một số thể loại

Do phạm vi thông tin và nhận thức rộng nên dấu hiệu cũng đa dạng về loại hình và cấu trúc. Ở đây chỉ trình bày những tính năng cơ bản và nổi bật nhất của một số danh mục phụ.

1. Phóng sự.

Phóng sự là thể loại ghi lại kịp thời một vấn đề có tầm quan trọng cấp bách đối với một khu dân cư hoặc toàn xã hội. Phóng sự được lập ra nhằm đáp ứng nhu cầu được thông tin của công chúng về một vấn đề, hiện tượng xã hội nào đó. Phóng sự ghi lại rất chính xác các sự kiện, chi tiết của cuộc sống đã xảy ra hoặc vừa kết thúc, nhưng có xu hướng nhấn mạnh rõ nét bản chất của sự việc và xu hướng vận động, phát triển. Các phóng viên thường sử dụng các công cụ báo chí chuyên nghiệp như điều tra, phỏng vấn, ghi chép thực địa, ghi âm hoặc sự kiện để trình bày diễn biến của câu chuyện hoặc sự kiện một cách trung thực, khách quan, đồng thời nêu bật kết quả và gợi mở một số vấn đề xã hội. công cụ quay phim,… Sự khác nhau giữa phóng sự báo chí và phóng sự văn học phụ thuộc vào mức độ sử dụng một số phương tiện biểu đạt văn học, ví dụ: phép tu từ, ngôn ngữ giàu hình ảnh, tập trung vào thế giới nội tâm của nhân vật,…

Trong Bài học cây lúa, Vũ Trọng Phụng đã theo dõi cuộc viếng thăm của những người nông dân rách rưới, lam lũ bị đuổi khỏi làng bởi đủ loại tai họa: bão lũ, hạn hán, triều cường: sưu cao, quan lại cường quyền, sùng bái thịt. ,…bất kể nắng mưa, đói rét, ai đến thành phố – ánh sáng rực rỡ của đêm vẫn còn thấy rõ nơi chân trời – với hy vọng tìm được việc làm và miếng ăn ở nơi “thiên đường” ấy; rồi chúng biến mình thành những thùng chứa: mùi “hàng tươi” rẻ tiền, rác thải nằm dưới cống, cá thối, phân, nước tiểu, đờm dãi, bùn đất, rong rêu lâu năm. Thành phố kêu gọi họ đến đây chỉ để “chết đói lần thứ hai sau khi bỏ nhà đi. “Ông ta bắt các cậu bé vào Hỏa Lò với một đám gái mại dâm.”

Một báo cáo ban đầu với nhiều sự kiện nóng. Nội dung chính của bài hầu hết xoay quanh vấn đề mà người viết muốn đề xuất và giải quyết.

2. Ghi chú.

Nó ghi lại một câu chuyện, một sự việc tương đối đầy đủ, ở quy mô gần với truyện ngắn hoặc truyện vừa. “Biên niên sử” sử dụng nhiều phương thức và phương tiện biểu đạt nghệ thuật khác nhau để ghi lại chính xác những sự kiện khách quan của cuộc sống và con người thông qua bức tranh toàn cảnh về sự kiện và con người. Biên niên sử phản ánh các sự kiện, không phải con người. Cá tính, tinh thần của người trong cuộc đôi khi khá lộ liễu, nhưng đây đơn giản chỉ là một cách ghi tác phẩm, tạo ấn tượng về sự kiện.

Thượng Kính Ký của Lê Hữu Trác, Trận Phố Ràng của Trần Đăng, Biên niên sử Cao Lãng của Nguyễn Huy Tưởng, Họ Sống Và Chiến Đấu; Tháng ba Tây Nguyên của Nguyễn Khải; Đất Lửa của Nguyễn Sinh, Vũ Kỳ Lân; Trong Hồi Ký Bùi Hiển, …

Biên niên sử là một bản ghi khá đầy đủ về một sự kiện, hành động, thời kỳ. Đó là một bức tranh toàn cảnh, trong đó các sự kiện và con người hàng ngày được đan xen, nhưng khuôn mặt của nhân vật không được rõ ràng cho lắm.

“Biên niên ký” khá gần với phóng sự, vì nó tập trung vào tác phẩm và ít đi vào yếu tố trữ tình. Nhật ký là một bản ghi khá đầy đủ về một sự kiện, hành động, thời kỳ, v.v., gần với truyện ngắn, ít hư cấu.

3. Kỉ niệm.

Cái hay của hồi ký là người kể phải là người trong cuộc, từng sống, từng trải và là nhân vật chính. Hồi ký có thể là về một giai đoạn quan trọng trong đời người, hoặc về một giai đoạn quan trọng trong lịch sử của một dân tộc, như Nhớ và Ngẫm của Giucop, Những năm tháng không thể quên của Võ Nguyên Giáp. Nhưng hồi ký cũng có thể là những câu chuyện đời tư, cá nhân của những người thường hơi nổi tiếng. Tính chân thực cũng là một tiêu chí quan trọng trong ký ức.

Hồi ký mà người kể là người trong cuộc nhớ lại những sự kiện đã qua. Kí ức có thể nặng về người hay vật, kết cấu – cốt truyện hay kết cấu – có thể ở dạng liên tưởng. Ghi lại các sự kiện thông qua hồi tưởng. Đó có thể là một câu chuyện mà người viết có tham gia, chứng kiến, hoặc được hư cấu lại một cách triệt để và gắn liền với hoặc được người viết thuật lại.

Hồi ký đòi hỏi phải tôn trọng tính chân thực trần thuật và tính khái quát cao.

4. Ký tên bằng bút chì.

Nếu hồi ký đòi hỏi tính xác thực cao về sự kiện thì tùy bút là “một thể loại phóng khoáng, tự do trong đó cá tính nghệ sĩ tham gia trực tiếp vào đặc điểm của thể loại”. Ngoài việc tái hiện những chi tiết chân thực về con người, sự việc, tùy bút còn ghi lại cảm xúc về sự việc, sự việc được miêu tả, từ đó thể hiện tư tưởng, đánh giá, quan niệm. Trong tùy bút, yếu tố trữ tình luôn được thấy xen lẫn với ghi chép, miêu tả sự việc, sự việc. Trong một bút ký của Juan Diệu khi trở lại miền Nam Việt Nam sau khi được trả tự do, ông đã ghi lại cả công việc của mình và bày tỏ cảm xúc và suy nghĩ của mình như sau: “Mỗi bước chân tôi vào thăm miền Nam sau ba mươi hai năm xa cách là một gia tài của tôi. . một mảnh thịt linh hồn. Tôi sống tốt cả cơ thể đất nước, tôi sống tốt cả thế giới trong cuộc chiến trường kỳ. Hình bóng Quê hương xa xôi trở nên trừu tượng. Đây là đoàn tụ, đây là tái sinh.”1. Viết ra những sự kiện và cảnh mà người viết đã nhìn thấy và nghe thấy trong chuyến đi, cũng như những cảm xúc và suy nghĩ của họ. Các sự kiện ở đây luôn đan xen yếu tố liên tưởng, tưởng tượng và cảm xúc. Vì vậy, tùy bút ký luôn đậm chất trữ tình.

Khi tác phẩm nghiêng về yếu tố trữ tình thì tùy bút nghiêng về yếu tố chính luận. Chẳng hạn, Bút Ký Ái gọi dòng sông Hoàng Phủ Ngọc Tường có nhịp thơ rất chậm và nghiêng về chất thơ ngọt ngào.

5. Truyện.

Tiểu thuyết thường tập trung cốt truyện vào câu chuyện của một nhân vật: danh nhân khoa học nghệ thuật, anh hùng chiến tranh và mặt trận sản xuất, chính khách, nhà hoạt động cách mạng. Thật dễ dàng để biến các chi tiết của một câu chuyện xoay quanh một nhân vật thành một cốt truyện hoàn chỉnh. Nó là một thể loại trung gian giữa câu chuyện và câu chuyện. Vì vậy, khi hư cấu ở đây vượt quá quy mô và giới hạn cần thiết, nó sẽ trở thành tiểu thuyết hoặc truyện vừa và tiểu thuyết viết về người thật.

Loại hồi ký có cốt truyện hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh như hồi ký và truyện, không thiếu yếu tố trữ tình – chính luận, khuynh hướng của tác giả bắt nguồn từ tình huống và hành động.

Trong văn tự sự, tác giả có thể hư cấu để hoàn chỉnh câu chuyện nhưng phải giữ được tính xác thực của sự việc và con người.

6. Sách du lịch

Du ký có thể hiểu là một thể loại viết về cảnh sắc thiên nhiên và những điều kỳ thú của cuộc sống, những cảm xúc và suy nghĩ của con người trong những chuyến du ngoạn, du ngoạn. Du lịch phản ánh và chuyển tải những ý kiến, cảm xúc, suy nghĩ mới của chính du khách về những điều mắt thấy tai nghe ở nước ngoài, nơi mà người ta ít có dịp đặt chân đến, nơi mà con người đã từng chứng kiến.

Hình thức của du ký rất đa dạng, có thể là ghi chép, nhật ký, thư từ, ký ức, miễn là mang đến những thông tin, tri thức, cảm nhận mới về phong cảnh, tập quán, con người đất nước. kinh nghiệm, cảm xúc của người đọc. Chẳng hạn, chuyến du ngoạn ba bể của nhà văn Nga Nikuli về Ấn Độ thế kỷ XV, chuyến du ngoạn Bắc Kỳ năm Kỷ Hợi (1881) của Trương Vĩnh Ký; thưởng thức và bình phẩm các danh lam thắng cảnh của đất nước: Báo Thiên Sơn Ký của Vương An Thạch thời Tống, Linh Tế Lâu đài núi Dục Thúy của Trương Hán Siêu, ký sự núi Phật Tích của Nguyễn An; những tác phẩm mang tính chất du ký như: Nhị Thanh ký, Song Tiên Sơn Đồng Ký, Nhị Thanh Đồng Ký, Ngô Thì Sĩ; Nhiều bài văn của Nguyễn Tuân cũng in đậm.

7. Cây bút đặc biệt.

Đây là một thể loại văn trữ tình. Theo Phạm Đăng Dư, “văn nghị luận là một bài văn xuôi nhỏ, có bố cục lỏng lẻo, tuỳ theo cảm hứng, tuỳ cảnh và việc, thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về những sự việc, vấn đề cụ thể, hoàn toàn không coi trọng những đảm bảo. diễn giải cố định và đầy đủ về đối tượng’.

Đặc điểm nổi bật của văn nghị luận so với các thể loại văn khác là những chi tiết về con người, sự việc cụ thể, có thật được ghi lại trong tác phẩm thường chỉ là cái cớ để bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, cảm nhận của tác giả về con người, đánh giá và cuộc sống. Mỗi bài văn có giá trị thường mang đến cho người đọc những cái nhìn, khám phá, kiến ​​giải mới về các sự kiện của cuộc đời. Yếu tố trữ tình, suy tư, triết luận là yếu tố tạo nên sự thống nhất trong bố cục tác phẩm, phản ánh chân thực cuộc sống, con người, đồng thời giữ vai trò gây ấn tượng, tác dụng của bài văn thuyết chính là chu trình tư tưởng của tác giả. Cái hay của bài văn là ở chỗ thông qua tác phẩm, cá tính, chủ đề uyên bác, sự nhạy bén, tài hoa, tinh thần và trí tuệ phong phú.

Cấu trúc của bài luận nhìn chung ít bị hạn chế và gò bó bởi chuỗi sự kiện hoặc mối quan hệ của những con người thực. Trong bài văn, các sự việc khách quan thường không được trình bày thống nhất do có sự đan xen giữa cảm xúc chủ quan, yếu tố trữ tình của người viết hoặc do các sự việc này được vận dụng từ nhiều nơi, nhiều thời điểm khác nhau tùy theo dòng liên tưởng và tư tưởng của tác giả . để phát triển một cảm hứng chủ đạo, một tư tưởng chủ đề nào đó. Tác giả bài văn cần nêu bật bản lĩnh, cách nhìn sâu sắc, độc đáo về cuộc đời và con người trong tác phẩm của mình.

8. Luận án.

Văn xuôi là một loại văn xuôi ngắn gọn, súc tích, có thể được chia thành các âm tiết. Nó không yêu cầu một cốt truyện đầy đủ hoặc tạo nhân vật đầy đủ. Bố cục của tác phẩm bao gồm một số dấu hiệu thẩm mỹ đóng vai trò trung tâm trong thế giới nghệ thuật. Nó có thể là hình ảnh, chi tiết hoặc một sự kiện cụ thể trong cuộc sống. Những tín hiệu thẩm mỹ này là điểm hội tụ toàn bộ nội dung tư tưởng và vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm. Nasir thường chọn một vài nét vẽ từ chất liệu cuộc sống, dựa vào đó, thể hiện thế giới nội tâm và suy nghĩ của mình về thế giới. Chẳng hạn, từ tiếng xì xèo trong bếp, người ta có thể liên tưởng đến cuộc sống yên ả, bình lặng và bình dị của bao người (Cái xì – Băng Sơn); Bát cháo trắng ăn với củ cải muối gợi lên tình yêu gia đình, đất nước (Ăn cháo Tiều – Lý Lan). Với sự tiết chế chất liệu như vậy, các chi tiết xuất hiện trong văn xuôi thường rất tinh tế, cô đọng và giàu sức gợi.

Cấu trúc của tác phẩm văn học không phụ thuộc vào sự sắp xếp các sự kiện và nhân vật, mà phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các hình ảnh và chi tiết. Mối quan hệ giữa chúng là mối quan hệ liên kết; Mối quan hệ này hợp nhất những thứ dường như rời rạc, phân tán và ngẫu nhiên thành một lĩnh vực có ý nghĩa. Chẳng hạn, trong Hoa giấy của Nguyễn Tuân, sự liên kết giữa chi tiết tổ ong, hành trình con ong đi làm mật, hạt cát, quá trình hình thành ngọc của con trai biển, và sự sáng tạo của người sáng tạo văn học là cơ bản. . về sự giống nhau. Ngoài việc xây dựng các mối quan hệ này để soi sáng các trào lưu tư tưởng, văn xuôi còn thông qua sự “dấn thân” của chủ thể diễn ngôn như một cách mang lại ý nghĩa cho tác phẩm.

Tham Khảo Thêm:  Đề kiểm tra học kì 2 môn Ngữ văn khối 10

Related Posts

USB Wifi là gì? Sự thay thế hoàn hảo cho card Wifi bị hỏng, chập chờn

quản trị viên · Ngày 4 tháng 6 năm 2023 · Trong cuộc sống, thay vì chỉ là người nhận, đôi khi bạn phải là người cho…

Bạn là ai trong Countryhumans ?

Countryhumans hiện đang rất hot trên mạng xã hội và được rất nhiều bạn trẻ tìm hiểu và xác định mình là ai trong Countryhumans. Vậy Bạn…

Aulala 911 clip video gốc và @s1mp1e244 cô gái hot nhất hôm nay

Hay gọi sô 911 video nhạc gốc và @s1mp1e244 Hot girl hiện nay là cụm từ được tìm kiếm nhiều trên MXH những ngày gần đây, cùng…

11h55 là ai ? 11h55 Voz là gì ?

11:55 là ai? ? 11:55Voz là gì? Đây là những cụm từ được tìm kiếm nhiều nhất trong thời gian gần đây nhưng vẫn chưa có đáp…

Biển trời bão giông, lòng người đâu bình lặng

Giữa nhịp tim cả nước đang loạn nhịp, một bài văn của một nữ sinh trường THPT Chuyên Tây Nguyên đã chạm đến trái tim của hàng…

Bài văn xúc động viết về thầy cô, giáo

Bài viết đầy cảm xúc, yêu thương khi học trò bày tỏ lòng biết ơn đến thầy cô nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11. Thời gian…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *